Nếu không có sự can thiệp quyết liệt và thay đổi nhận thức từ cộng đồng, “khủng hoảng ế vợ” năm 2039 sẽ không còn là câu chuyện đùa trên mạng xã hội nữa, mà trở thành vấn đề thực tế mà hàng triệu gia đình và xã hội phải gánh chịu.
Tại Dự thảo Luật Dân số đang được Bộ Y tế lấy ý kiến nhân dân nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, góp phần thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về công tác dân số; khắc phục các hạn chế, tồn tại; đáp ứng yêu cầu công tác dân số trong tình hình mới.
Theo Bộ Y tế, từ năm 2006 đến năm 2021, nước ta đã đạt và duy trì mức sinh thay thế; duy trì mức độ gia tăng dân số phù hợp; quy mô dân số năm 2024 đạt hơn 101 triệu người. Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng, tạo ra những lợi thế to lớn cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội; phân bố dân số đã hợp lý hơn; chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta không ngừng tăng lên; tuổi thọ bình quân người Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, mức sinh trên toàn quốc đang có xu hướng giảm thấp dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ (2021) xuống 2,01 con/phụ nữ (2022), 1,96 con/phụ nữ (2023) và 1,91 con/phụ nữ (2024) – thấp nhất trong lịch sử và được dự báo là sẽ tiếp tục xuống thấp trong các năm tiếp theo (nếu mức sinh tiếp tục giảm, đến năm 2039 Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng, năm 2042 quy mô dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh và sau năm 2054 dân số sẽ bắt đầu tăng trưởng âm.
Bên cạnh đó là tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trở thành thách thức. Nếu như năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh mới chỉ ở mức 109,8 bé trai/100 bé gái sinh ra sống – vượt ngưỡng cân bằng tự nhiên (103-107) thì đến năm 2015 con số này là là 112,8; năm 2024 là 111,4. Như vậy, tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao.
Bộ Y tế dự báo, nếu tỷ số giới tính khi sinh vẫn giữ nguyên như hiện nay, Việt Nam sẽ dư thừa 1,5 triệu nam giới 15-49 tuổi vào năm 2039 và tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân chính dẫn đến việc mất cân bằng giới tính một phần xuất phát từ thói quen chọn giới tính thai nhi (thường ưu tiên con trai) kéo dài nhiều thập kỷ. Tỷ số giới tính khi sinh đã vượt ngưỡng tự nhiên từ năm 2006 và vẫn ở mức cao đến nay. Hậu quả không chỉ dừng lại ở con số khô khan, mà sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc xã hội.
Theo đó, một bộ phận lớn thanh niên nam giới có nguy cơ không tìm được vợ, dẫn đến tình trạng kết hôn muộn hoặc không kết hôn. Cùng với đó là áp lực tăng cao đối với thị trường hôn nhân, có thể làm gia tăng các vấn đề xã hội như buôn bán phụ nữ, trẻ em gái, mại dâm, bạo hành giới và thậm chí tội phạm xuyên quốc gia. Từ đó, phá vỡ cấu trúc gia đình truyền thống, ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh và sự ổn định lâu dài của xã hội.
Thực tế hiện nay, tư tưởng “có con trai nối dõi tông đường” hoặc “phải đủ nếp đủ tẻ”, vẫn còn tồn tại trong nhiều gia đình dẫn đến tình trạng sàng lọc giới tính thai nhi dù pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, dự thảo Luật Dân số được đưa ra với các biện pháp mạnh tay hơn, trong đó có đề xuất đình chỉ hành nghề đối với bác sĩ tiết lộ giới tính thai nhi nhằm ngăn chặn tình trạng này.
Đây là lời cảnh báo nghiêm túc từ các chuyên gia: Giới tính không phải là “sản phẩm tùy chọn”. Việc cân bằng giới tính khi sinh không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là ý thức của mỗi gia đình. Nếu chúng ta không hành động ngay hôm nay, thế hệ thanh niên tương lai – đặc biệt là các chàng trai – sẽ phải trả giá đắt cho sai lầm của hôm nay.
Để giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, các quốc gia đã triển khai đồng bộ 4 nhóm biện pháp chính:
|



