Ngày 30/10/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 2071/QĐ-TTg, ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW của Ban Bí thư về công tác người khuyết tật. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 mở rộng cơ hội tiếp cận y tế, giáo dục, việc làm và các dịch vụ xã hội, giúp người khuyết tật nâng cao khả năng tự chủ, hòa nhập cộng đồng.

Chăm lo an sinh, mở rộng cơ hội để người khuyết tật tự chủ cuộc sống
Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 22/9/2026 của Ban Bí thư xác định công tác người khuyết tật là nhiệm vụ thường xuyên trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Trọng tâm không chỉ là hỗ trợ những người gặp khó khăn trong cuộc sống mà còn tạo điều kiện để họ học tập, lao động, phát triển năng lực và tham gia các hoạt động cộng đồng.
Theo mục tiêu đến năm 2030, các chính sách an sinh xã hội đối với người khuyết tật sẽ tiếp tục được nâng cao chất lượng, hiệu quả theo hướng tôn trọng quyền, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ bảo hiểm y tế. Những người có hoàn cảnh khó khăn hoặc không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống được ưu tiên chăm lo.
Cùng với chính sách trợ giúp, Chính phủ định hướng mở rộng cơ hội học tập, đào tạo nghề, tiếp cận việc làm, vay vốn tạo sinh kế, khởi nghiệp và phát triển sản xuất, kinh doanh. Người khuyết tật có khả năng lao động cần được tạo điều kiện phát huy năng lực, từng bước chủ động về kinh tế thay vì chỉ phụ thuộc vào các hình thức hỗ trợ.
Kế hoạch cũng đặt yêu cầu bảo đảm sự tham gia phù hợp của người khuyết tật vào các cơ quan dân cử, mở rộng cơ hội để họ tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp ý kiến và thụ hưởng thành quả phát triển.
Đối với các địa phương, việc phát triển thiết chế văn hóa, câu lạc bộ và phong trào thể dục, thể thao dành cho người khuyết tật được xác định là một nội dung cần triển khai. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí phải tạo thêm cơ hội tiếp cận và tham gia cho nhóm đối tượng này.
Ưu tiên sàng lọc, phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, Kế hoạch nhấn mạnh yêu cầu chuyển trọng tâm từ hỗ trợ khi khuyết tật đã hình thành sang chủ động phòng ngừa, phát hiện và can thiệp sớm.
Theo đó, trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc, phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và can thiệp phù hợp với từng dạng khuyết tật. Trẻ em và người khuyết tật cũng cần được tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và dụng cụ trợ giúp phù hợp.
Để thực hiện mục tiêu này, Kế hoạch yêu cầu tăng cường các hoạt động tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Việc khám sàng lọc một số bệnh tật phổ biến, nguy cơ khuyết tật phải phù hợp với từng lứa tuổi và nhóm đối tượng, đặc biệt là trẻ nhỏ.
Công tác phòng ngừa còn hướng đến giảm thiểu những trường hợp khuyết tật mới có thể phòng tránh, nhất là các trường hợp liên quan đến tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp và bệnh tật.
Những nhóm có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em khuyết tật, người nhiễm chất độc da cam tiếp tục được xác định là đối tượng cần quan tâm, chăm sóc và hỗ trợ.
Không dừng ở khâu phát hiện, Kế hoạch đặt yêu cầu kết nối hoạt động can thiệp sớm với phục hồi chức năng và giáo dục. Trẻ khuyết tật trong độ tuổi mầm non, phổ thông phải được tạo cơ hội tiếp cận môi trường học tập phù hợp, phát triển khả năng và hòa nhập với cộng đồng.
Trường học, công trình công cộng phải đáp ứng nhu cầu tiếp cận
Một nội dung được nhấn mạnh trong Kế hoạch là bảo đảm khả năng tiếp cận của người khuyết tật ngay từ quá trình xây dựng chính sách, quy hoạch, thiết kế và đầu tư công trình.
Các công trình xây dựng mới, công trình công cộng được cải tạo, nâng cấp phải đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện để người khuyết tật tiếp cận, sử dụng. Yêu cầu này còn được đặt ra đối với giao thông, nhà ở, hạ tầng thiết yếu và các dịch vụ phục vụ đời sống.
Thay vì chỉ khắc phục những bất tiện sau khi công trình hoàn thành, Kế hoạch xác định khả năng tiếp cận là yêu cầu xuyên suốt từ khâu hoạch định, thiết kế, xây dựng đến giám sát và cung cấp dịch vụ.
Trong lĩnh vực giáo dục, Chính phủ yêu cầu thực hiện các giải pháp phát hiện sớm trẻ có dấu hiệu bất thường, hỗ trợ các em đến trường, tham gia học tập và các hoạt động giáo dục.
Hệ thống trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập và cơ sở giáo dục chuyên biệt sẽ được phát triển theo quy hoạch. Các trường học, cơ sở chăm sóc ban ngày, chương trình giáo dục và can thiệp dành cho trẻ tự kỷ, trẻ có nhu cầu hỗ trợ đặc biệt cũng nằm trong định hướng triển khai.
Đối với người khuyết tật có nhu cầu tiếp tục học tập, đào tạo nghề, các chính sách hỗ trợ phải tạo điều kiện để họ tham gia các cấp học và tiếp cận kỹ năng phù hợp với khả năng của bản thân.
Ở môi trường số, Kế hoạch yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số. Việc tích hợp các nền tảng số, phát triển hệ sinh thái công nghệ trợ giúp được định hướng để người khuyết tật sử dụng dịch vụ công, tiếp cận thông tin và giao tiếp thuận tiện, an toàn hơn.
Xóa bỏ kỳ thị, xử lý nghiêm hành vi xâm hại người khuyết tật
Cùng với việc mở rộng chính sách hỗ trợ, Kế hoạch đặt ra yêu cầu thay đổi nhận thức xã hội đối với người khuyết tật.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật về người khuyết tật.
Hoạt động tuyên truyền, giáo dục cần hướng đến xóa bỏ định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử, xây dựng môi trường sống bình đẳng, tôn trọng quyền và khả năng của mỗi người.
Kế hoạch cũng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về người khuyết tật; thực hiện đầy đủ, hiệu quả các điều ước quốc tế liên quan. Các chính sách chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, sinh kế, phục hồi chức năng và trợ giúp pháp lý phải được nâng cao hiệu quả thực hiện.
Một yêu cầu khác là bảo vệ người khuyết tật trước các hành vi bạo lực, xâm hại, ngược đãi, bỏ rơi hoặc lợi dụng để trục lợi.
Theo đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật, chính quyền các cấp và lực lượng chức năng có trách nhiệm chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Người khuyết tật cũng phải được tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định.
Những giải pháp này cho thấy chính sách đối với người khuyết tật không chỉ tập trung vào điều kiện vật chất mà còn hướng đến bảo vệ quyền, bảo đảm sự an toàn và vị thế bình đẳng của họ trong đời sống xã hội.
Hướng tới hệ thống an sinh xã hội hòa nhập vào năm 2045
Từ các mục tiêu đến năm 2030, Chính phủ xác định tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 là phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bình đẳng và hòa nhập đối với người khuyết tật.
Theo định hướng này, người khuyết tật được tạo điều kiện phát triển toàn diện, sống độc lập và thụ hưởng đầy đủ hơn các thành quả phát triển kinh tế – xã hội. Những người có năng lực, điều kiện và nguyện vọng sẽ được hỗ trợ để phát triển nghề nghiệp, trở thành nguồn nhân lực đóng góp cho đất nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Kế hoạch xác định sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp, từ nâng cao nhận thức và hoàn thiện chính sách đến phòng ngừa khuyết tật, cải thiện khả năng tiếp cận, phát triển giáo dục hòa nhập và bảo vệ người khuyết tật trước các hành vi xâm hại.
Điểm xuyên suốt là chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào trợ giúp sang bảo đảm quyền, phát triển năng lực và tạo cơ hội tham gia bình đẳng.
Từ việc một trẻ nhỏ được phát hiện sớm rối loạn phát triển, một học sinh khuyết tật được đến trường, đến cơ hội học nghề, tìm việc làm hay sử dụng các công trình công cộng, hiệu quả của chính sách sẽ được thể hiện trong những điều kiện tiếp cận cụ thể của đời sống hằng ngày.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình triển khai Quyết định số 2071/QĐ-TTg: đưa các mục tiêu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, an sinh và hòa nhập xã hội thành những cơ hội thực tế để người khuyết tật phát huy khả năng, tự chủ cuộc sống và tham gia vào sự phát triển chung của đất nước.



