Bộ Y tế đề xuất Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám sàng lọc, chẩn đoán sớm 7 bệnh ung thư cùng viêm gan B, C. Nếu được thông qua, chính sách sẽ mở rộng phạm vi chi trả từ điều trị sang phát hiện bệnh sớm, giúp người tham gia BHYT tiếp cận các dịch vụ dự phòng theo từng nhóm đối tượng và lộ trình.
Mở rộng quyền lợi từ phát hiện sớm
Đề xuất được Bộ Y tế đưa ra trong dự thảo Nghị định mở rộng phạm vi chi trả của Quỹ BHYT đối với một số hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán sớm, phòng bệnh và quản lý bệnh mạn tính, đang được lấy ý kiến đến ngày 12/9.
Danh mục 7 bệnh ung thư được đề xuất gồm ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày và ung thư gan. Viêm gan B, C cũng được đưa vào nhóm bệnh được sàng lọc, chẩn đoán sớm.
Theo dự thảo, Quỹ BHYT sẽ thanh toán chi phí trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng và tỷ lệ hưởng của người tham gia. Các khoản chi trả có thể bao gồm chi phí khám, xét nghiệm, dịch vụ kỹ thuật cận lâm sàng, thuốc, thiết bị y tế, máu, vật tư, hóa chất và những chi phí liên quan.
Nếu kết quả sàng lọc nghi ngờ hoặc xác định mắc bệnh, người tham gia BHYT tiếp tục được thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định hiện hành khi có kết quả chẩn đoán. Như vậy, chính sách được thiết kế theo chuỗi từ sàng lọc, chẩn đoán đến điều trị, thay vì chỉ thanh toán khi bệnh đã được xác định.
Phát hiện sớm để giảm chi phí điều trị
Ung thư đang tạo áp lực lớn lên hệ thống y tế. Trung bình mỗi năm, cả nước ghi nhận khoảng 180.000 ca mắc mới và hơn 120.000 người tử vong. Khoảng 350.000 người đang sống chung với căn bệnh này.
Trong số các bệnh ung thư phổ biến, ung thư vú hiện đứng đầu về tỷ lệ mắc mới và tử vong, tiếp đến là ung thư gan và ung thư phổi. Gánh nặng bệnh tật không chỉ nằm ở số người mắc mà còn ở chi phí điều trị, đặc biệt khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn.
Bộ Y tế đánh giá việc mở rộng phạm vi hưởng BHYT sang sàng lọc và chẩn đoán sớm có thể tạo giá trị kinh tế lớn. Khi bệnh được phát hiện sớm, người bệnh có cơ hội điều trị kịp thời, trong khi chi phí dành cho những giai đoạn nặng, khi xuất hiện biến chứng và phải sử dụng thuốc đặc trị hoặc kỹ thuật chẩn đoán, điều trị chi phí cao, có thể giảm.
Năm 2023, Quỹ BHYT đã chi 6.186 tỷ đồng cho 6 nhóm bệnh ung thư thường gặp gồm ung thư vú, phổi, gan, đại tràng, dạ dày và tiền liệt tuyến.
Chi phí điều trị ung thư cổ tử cung cho thấy rõ sự khác biệt giữa các giai đoạn bệnh. Chi phí trung bình mỗi năm ở giai đoạn I là 89,8 triệu đồng, trong khi các giai đoạn II, III và IV lần lượt là 136,9 triệu, 138,4 triệu và 136,8 triệu đồng.
Nếu phát hiện ở giai đoạn I, người bệnh có thể tiết kiệm từ 47 đến 48,6 triệu đồng mỗi năm so với phát hiện ở các giai đoạn muộn hơn. Với ung thư vú, phát hiện sớm cũng giúp giảm từ 7,9 đến 18,3 triệu đồng chi phí điều trị mỗi năm so với khi bệnh được phát hiện muộn.
Những con số này cho thấy bài toán sàng lọc không chỉ liên quan đến quyền lợi của người bệnh. Đây còn là cách chuyển một phần nguồn lực từ điều trị bệnh nặng sang phát hiện và can thiệp sớm.

Không phải ai cũng được sàng lọc miễn phí ngay
Việc đưa sàng lọc vào phạm vi chi trả BHYT không có nghĩa tất cả người tham gia sẽ được khám miễn phí cả 7 loại ung thư cùng viêm gan B, C ngay khi chính sách có hiệu lực.
Theo Bộ Y tế, việc thanh toán sẽ được thực hiện theo từng nhóm đối tượng, từng giai đoạn và phụ thuộc vào lộ trình triển khai cũng như khả năng cân đối của Quỹ BHYT.
Bộ trưởng Y tế sẽ quy định cụ thể quy trình chuyên môn, đối tượng được sàng lọc, danh mục dịch vụ kỹ thuật, thuốc, thiết bị y tế, tỷ lệ và mức thanh toán, cùng các điều kiện để Quỹ BHYT thực hiện chi trả.
Cách tiếp cận này cho phép mở rộng quyền lợi theo từng bước, thay vì áp dụng đồng loạt. Đây cũng là yếu tố quyết định khả năng triển khai chính sách trong thực tế khi nhu cầu sàng lọc đối với các bệnh ung thư và bệnh mạn tính rất lớn.
Theo lộ trình được nêu trong dự thảo, chi phí sàng lọc viêm gan B, C dự kiến được thanh toán khi lồng ghép trong khám sức khỏe định kỳ.
Đối với ung thư cổ tử cung, thời điểm thí điểm thanh toán dự kiến từ ngày 1/7/2028 và triển khai thanh toán từ ngày 1/1/2030. Từ ngày 1/1/2030, thanh toán đối với ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư đại trực tràng, cùng tăng huyết áp, đái tháo đường, sẽ được thực hiện theo lộ trình do Bộ Y tế quy định.
Riêng ung thư dạ dày và ung thư gan đã nằm trong danh mục đề xuất nhưng dự thảo chưa xác định thời điểm triển khai cụ thể. Việc thực hiện sẽ tiếp tục phụ thuộc vào lộ trình và khả năng cân đối của quỹ.
BHYT chuyển dần sang quản lý sức khỏe
Dự thảo nghị định không chỉ mở rộng phạm vi chi trả đối với sàng lọc ung thư và viêm gan. Bộ Y tế còn đề xuất đưa thêm một số hoạt động phòng bệnh, dinh dưỡng và quản lý bệnh mạn tính vào phạm vi thanh toán.
Từ ngày 1/7/2027, BHYT dự kiến chi trả chi phí điều trị dinh dưỡng cho một số nhóm trẻ em, gồm trẻ mắc động kinh kháng trị, trẻ dưới 6 tuổi bị suy dinh dưỡng cấp tính và trẻ sơ sinh sinh non, nhẹ cân theo hướng dẫn chuyên môn.
Từ ngày 1/1/2028, dự kiến triển khai thanh toán chi phí quản lý bệnh mạn tính và một số dịch vụ phòng bệnh khác.
Các đề xuất này cho thấy phạm vi sử dụng Quỹ BHYT đang được đặt trong hướng tiếp cận rộng hơn: không chỉ chi trả khi người dân đã mắc bệnh mà từng bước tham gia vào quá trình phát hiện nguy cơ, theo dõi và quản lý sức khỏe.
Khả năng triển khai chính sách cũng có cơ sở từ độ bao phủ BHYT ngày càng cao. Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, đến hết tháng 6/2026, khoảng 99,1 triệu người đã tham gia BHYT, tương đương 96,91% dân số.
Khi gần như toàn dân đã nằm trong hệ thống BHYT, việc mở rộng quyền lợi sang sàng lọc và phát hiện sớm sẽ tác động trực tiếp đến cách người dân tiếp cận dịch vụ y tế. Vấn đề còn lại là xác định đúng nhóm cần sàng lọc, tổ chức dịch vụ phù hợp và xây dựng lộ trình thanh toán đủ khả thi để Quỹ BHYT có thể duy trì lâu dài.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ BHYT toàn dân. Cùng với mở rộng số người tham gia, việc mở rộng những quyền lợi được thụ hưởng sẽ quyết định giá trị thực tế của tấm thẻ BHYT, đặc biệt trong phòng bệnh và phát hiện bệnh trước khi chi phí điều trị tăng cao.



