Bộ Y tế đề xuất lộ trình tăng mức đóng BHYT từ 4,5% hiện nay lên 5,1% từ năm 2027, sau đó tiếp tục điều chỉnh lên 5,4% và 6%. Đổi lại, phạm vi quyền lợi dự kiến được mở rộng sang khám sức khỏe, sàng lọc ung thư và một số dịch vụ phòng bệnh, đặt ra câu hỏi về mức hưởng thực tế của người tham gia.
Tăng mức đóng, người lao động trả thêm bao nhiêu?
Theo dự thảo Nghị định quy định về lộ trình tăng mức hưởng và phạm vi hưởng BHYT theo lộ trình, đối tượng ưu tiên phù hợp với mức đóng và khả năng cân đối Quỹ BHYT, Bộ Y tế đề xuất tăng dần mức đóng BHYT từ 4,5% hiện nay lên 5,1% từ năm 2027, sau đó lên 5,4% và 6%. Dự thảo dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/4/2027.
Với người tham gia BHYT thông qua quan hệ lao động, mức đóng hiện bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc. Doanh nghiệp đóng hai phần ba, người lao động đóng một phần ba.

Nếu mức đóng tăng lên 5,1%, tỷ lệ đóng của người lao động sẽ từ 1,5% lên 1,7%, còn doanh nghiệp từ 3% lên 3,4%. Chẳng hạn, với mức lương làm căn cứ đóng BHYT là 10 triệu đồng mỗi tháng, tổng tiền đóng hiện nay là 450.000 đồng, trong đó người lao động đóng 150.000 đồng.
Khi mức 5,1% được áp dụng, tổng tiền đóng tăng lên 510.000 đồng. Phần của người lao động là 170.000 đồng, tăng 20.000 đồng mỗi tháng; doanh nghiệp đóng 340.000 đồng, tăng 40.000 đồng.
Với BHYT hộ gia đình, mức đóng mới dự kiến áp dụng từ ngày 1/1/2028. Nếu lương cơ sở khi đó vẫn ở mức 2,53 triệu đồng, người tham gia thứ nhất sẽ đóng 119.340 đồng mỗi tháng, cao hơn hiện nay khoảng 6.000 đồng. Chính sách giảm trừ khi nhiều thành viên cùng tham gia tiếp tục được giữ.
Những con số này cho thấy phần tăng thêm đối với từng cá nhân có thể không lớn. Tuy nhiên, khi áp dụng trên quy mô hàng chục triệu người tham gia, số tiền bổ sung vào quỹ sẽ trở thành một nguồn lực đáng kể. Vấn đề được đặt ra là nguồn lực đó sẽ quay trở lại với người tham gia BHYT bằng những quyền lợi cụ thể nào.
Người bệnh cần thêm quyền lợi, người khỏe cần thấy giá trị
Câu hỏi về hiệu quả của khoản đóng thêm càng rõ hơn ở những người phải sử dụng dịch vụ y tế thường xuyên.

Bốn năm trước, khi 32 tuổi và vừa lập gia đình, anh Hùng ở Hà Nội phát hiện suy thận giai đoạn cuối. Từ đó, cuộc sống của anh gắn với bệnh viện và ba buổi chạy thận mỗi tuần.
Nếu không có BHYT chi trả, giá một lần chạy thận có thể dao động từ 700.000 đến 2 triệu đồng hoặc cao hơn, tùy dịch vụ, vật tư y tế sử dụng và từng cơ sở. Với người có BHYT đúng tuyến, mức bảo hiểm chi trả tối đa là 567.000 đồng mỗi lần.
Ba lần chạy thận mỗi tuần chưa phải toàn bộ chi phí điều trị. Tiền thuốc, xét nghiệm và các khoản phụ phí khiến tổng chi phí mỗi tháng của anh Hùng vào khoảng 2,5-12 triệu đồng. Riêng các khoản ngoài danh mục BHYT, anh phải tự chi trả khoảng 3-5 triệu đồng mỗi tháng.
Với người bệnh phải điều trị lâu dài như anh Hùng, BHYT trở thành một lớp bảo vệ tài chính. Nhưng chính từ những khoản vẫn phải tự trả, câu hỏi về quyền lợi khi mức đóng tăng lên trở nên cụ thể hơn.
“Đóng thêm thì không ngại bằng việc đóng rồi mà những dịch vụ mình cần vẫn phải tự trả”, anh Hùng nói. Điều anh quan tâm là khoản tiền đóng thêm sẽ đổi lại quyền lợi gì, nhất là đối với khám sức khỏe và điều trị các bệnh mạn tính.
Ở chiều ngược lại, chị Ngọc, 35 tuổi, một nhân viên kinh doanh tại Hà Nội, nhiều năm đóng BHYT nhưng chưa từng sử dụng để khám bệnh. Với chị, việc tăng mức đóng khiến câu hỏi về quyền lợi trở nên rõ ràng hơn.
“Chưa sử dụng BHYT lần nào nên tôi vẫn khá mơ hồ về quyền lợi”, chị nói.
Hai trường hợp này cho thấy cùng một chính sách tăng mức đóng nhưng cảm nhận của người tham gia có thể rất khác nhau. Người đang điều trị bệnh quan tâm đến số tiền được quỹ chi trả và khoản phải tự thanh toán; người khỏe mạnh lại muốn biết mình đang được bảo vệ như thế nào trước khi phát sinh nhu cầu khám, chữa bệnh.
Từ chi trả điều trị sang đầu tư cho phòng bệnh
Lý do Bộ Y tế đề xuất điều chỉnh mức đóng không chỉ nằm ở yêu cầu tăng nguồn thu cho quỹ. Đi cùng lộ trình này là định hướng mở rộng phạm vi quyền lợi, chuyển một phần trọng tâm từ chi trả khi người dân đã mắc bệnh sang phòng bệnh và phát hiện sớm.
Theo đề xuất, một số dịch vụ phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc bệnh có thể được đưa vào phạm vi BHYT chi trả. Trong đó, bảy nhóm ung thư được đề xuất sàng lọc gồm ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày và ung thư gan; cùng với đó là sàng lọc viêm gan B, C.

Nếu được thông qua, thay đổi này sẽ mở rộng cách người dân tiếp cận BHYT. Quỹ không chỉ được sử dụng khi người bệnh đã phải đến bệnh viện điều trị mà còn có thể tham gia từ giai đoạn phát hiện nguy cơ hoặc bệnh ở giai đoạn sớm.
Dự thảo cũng đề xuất chi cho phòng bệnh mạn tính, dinh dưỡng và tăng mức hỗ trợ đối với một số nhóm khó khăn. Một số đối tượng có thể được nâng mức hưởng từ 80% lên 85%.
Đề xuất được đưa ra trong bối cảnh nhu cầu khám, chữa bệnh tiếp tục tăng. Năm 2024, cả nước ghi nhận 183,6 triệu lượt khám, chữa bệnh, tăng 9,7 triệu lượt so với năm 2023. Khoảng 40 triệu người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT thường xuyên, trung bình mỗi người khoảng 4,5 lần mỗi năm.
Chi khám, chữa bệnh BHYT toàn quốc năm 2024 gần 140.000 tỷ đồng, tăng hơn 18.000 tỷ đồng, tương đương 15% so với năm trước. Trong khi đó, người dân vẫn phải tự trả hơn 40% chi phí khám, chữa bệnh.
Gánh nặng chi phí vì bệnh tật vì thế vẫn hiện hữu, nhất là với người nghèo, người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính hoặc phải điều trị kéo dài. Đại diện Vụ BHYT (Bộ Y tế) cho biết, khi mở rộng quyền lợi và tăng mức hưởng, tiến tới mục tiêu miễn viện phí toàn dân, việc tái cơ cấu mức đóng là cần thiết để bảo đảm khả năng chi trả của quỹ.
Khoản đóng thêm phải được nhìn từ quyền lợi nhận được
BHYT được xây dựng trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro. Người đang khỏe vẫn đóng vào quỹ để khi một thành viên mắc bệnh, nguồn lực chung được sử dụng để chi trả chi phí khám, chữa bệnh.
Vì vậy, với người tham gia, bài toán của chính sách không dừng ở mức tăng thêm vài chục nghìn đồng mỗi tháng. Điều họ cần nhìn thấy là khoản tiền đó sẽ chuyển thành quyền lợi cụ thể ra sao khi đi khám, khi phát hiện bệnh sớm hoặc khi phải điều trị dài ngày.

Với những người như anh Hùng, câu trả lời nằm ở khả năng giảm phần chi phí phải tự thanh toán sau mỗi lần điều trị. Còn với những người ít sử dụng dịch vụ y tế như chị Ngọc, giá trị của BHYT sẽ rõ hơn nếu quyền lợi phòng bệnh, khám sức khỏe và phát hiện sớm được thiết kế cụ thể, dễ tiếp cận.
Đó cũng là thách thức đặt ra khi lộ trình tăng mức đóng được đề xuất. Người dân có thể chấp nhận đóng thêm nếu nhìn thấy mối quan hệ rõ ràng giữa phần đóng góp và mức bảo vệ mà BHYT mang lại.
Khi phạm vi hưởng được mở rộng từ điều trị sang phòng bệnh, ý nghĩa của BHYT cũng thay đổi theo. Người tham gia không chỉ chờ đến lúc mắc bệnh mới sử dụng quyền lợi, mà có thể được bảo vệ sớm hơn. Với một chính sách liên quan tới hàng chục triệu người, mức đóng và mức hưởng vì thế cần được đặt trên cùng một bàn cân.



